Một phép tính lãi lỗ đáng tin cho một loài lạ phải dựa vào giá sản phẩm cuối mà người tiêu dùng trả, không dựa vào giá bán con giống cho người khác. Lý do đơn giản: giá giống trong phong trào phụ thuộc vào số người mới vào nghề, có thể sập bất cứ lúc nào, còn giá sản phẩm cuối mới là thứ còn lại khi phong trào qua đi.
Bài này đưa ra một khung tính mà bạn tự điền số của mình: liệt kê chi phí, tính thu chỉ từ sản phẩm cuối, dựng ba kịch bản giá, tìm điểm hoà vốn và thời gian thu hồi tiền chuồng trại. Mọi con số trong bài là ví dụ giả định tính bằng "phần", không phải giá của loài nào; mục đích là để bạn thấy cách tính và những chỗ người bán giống hay bỏ qua.
Vì sao không đưa tiền bán giống vào phép tính chính
Bảng tính của người bán giống thường có một dòng rất lớn: tiền bán con giống sinh ra cho người khác. Dòng đó làm phép tính có lãi rất đẹp. Nhưng nó dựa trên giả định rằng luôn có người mới muốn mua giống với giá cao, và giả định đó là thứ đầu tiên biến mất khi phong trào chuyển giai đoạn.
Cách làm thận trọng là tính kịch bản cơ sở chỉ với sản phẩm cuối: thịt, trứng, sản phẩm chế biến. Nếu kịch bản cơ sở có lãi, nghề nuôi đó đứng được bằng chân của nó. Tiền bán giống, nếu có, là phần thưởng thêm, không phải nền tảng.
Nếu kịch bản cơ sở lỗ và chỉ có lãi khi cộng tiền bán giống, bạn đang không nuôi để bán sản phẩm mà đang tham gia một vòng mua bán giống. Có người vẫn chọn tham gia với hiểu biết đó, nhưng ít nhất họ biết mình đang đặt cược vào điều gì.
Liệt kê chi phí một vụ: những khoản hay bị bỏ sót
Chia làm hai loại: chi phí đầu tư ban đầu dùng được nhiều vụ, và chi phí mỗi vụ.
| Khoản | Loại | Hay bị bỏ sót ở đâu |
|---|---|---|
| Con giống ban đầu | Đầu tư | Giá giống trong phong trào cao, nên khoản này chiếm tỷ trọng lớn |
| Chuồng, bể, khung, mái che | Đầu tư | Hư hỏng, phải thay sau vài năm |
| Thiết bị: bơm, sục khí, đèn sưởi | Đầu tư | Tiền điện vận hành |
| Thức ăn | Mỗi vụ | Tính theo số con thực tế cả vụ, kể cả con chết giữa chừng đã ăn |
| Điện, nước | Mỗi vụ | Mô hình nuôi bể tốn điện liên tục |
| Thuốc thú y, chế phẩm, vệ sinh | Mỗi vụ | Chi theo chỉ định của thú y, không theo bảng của người bán |
| Công chăm | Mỗi vụ | Công của chính mình cũng phải tính |
| Vận chuyển, bán hàng | Mỗi vụ | Đi giao cho nhà hàng, chợ tốn xăng, thời gian |
| Hao hụt | Mỗi vụ | Người mới thường hao nhiều hơn lời kể |
| Lãi vốn vay hoặc chi phí cơ hội | Mỗi vụ | Tiền đó nếu dùng việc khác cũng sinh lời |
Ghi từng khoản bằng số của bạn, hỏi giá thật ở nơi bạn mua. Không dùng con số trong tờ quảng cáo của người bán giống cho các khoản này.
Phép tính mẫu một vụ (ví dụ giả định)
Giả sử bạn đầu tư 100 phần cho giống ban đầu và 60 phần cho chuồng bể, thiết bị. Chuồng bể dùng được khoảng năm vụ, nên mỗi vụ khấu hao 12 phần. Giống ban đầu là đàn bố mẹ, dùng được khoảng bốn vụ, mỗi vụ khấu hao 25 phần. Chi phí mỗi vụ gồm thức ăn 40 phần, điện nước 10 phần, thuốc và vệ sinh 5 phần, công chăm 20 phần, vận chuyển bán hàng 5 phần. Tổng chi phí một vụ: 12 cộng 25 cộng 80, bằng 117 phần.
Về thu: người bán giống nói mỗi vụ ra khoảng 500 ký sản phẩm. Bạn hỏi kỹ những hộ khác và thấy vụ đầu của người mới thường chỉ đạt khoảng 70% con số đó do hao hụt, tức khoảng 350 ký. Giá sản phẩm cuối hiện tại, bạn tự hỏi được ở chợ và nhà hàng, là 0,4 phần mỗi ký. Thu một vụ: 350 nhân 0,4, bằng 140 phần.
Lãi một vụ: 140 trừ 117, bằng 23 phần. Nghe có vẻ được, nhưng chú ý: đây là giá hiện tại, khi chưa nhiều hộ bán sản phẩm cuối. Nếu nhiều hộ cùng ra hàng và giá giảm 30%, thu chỉ còn 98 phần, lỗ 19 phần mỗi vụ. Một biến động giá vừa phải đã đảo ngược kết quả.
Ba kịch bản giá sản phẩm cuối
Tiếp ví dụ giả định trên. Giữ nguyên chi phí, chỉ thay giá và sản lượng.
| Kịch bản | Sản lượng | Giá mỗi ký | Thu một vụ | Lãi hoặc lỗ một vụ |
|---|---|---|---|---|
| Tốt: giá giữ như hiện tại, nuôi đạt lời kể | 500 kg | 0,40 phần | 200 phần | lãi 83 phần |
| Vừa: giá giữ, hao hụt như người mới | 350 kg | 0,40 phần | 140 phần | lãi 23 phần |
| Xấu: giá giảm 30%, hao hụt như người mới | 350 kg | 0,28 phần | 98 phần | lỗ 19 phần |
| Rất xấu: giá giảm một nửa, thêm một vụ hỏng | 250 kg | 0,20 phần | 50 phần | lỗ 67 phần |
Người bán giống thường chỉ đưa ra kịch bản tốt. Bạn nên quyết định dựa trên kịch bản vừa và kịch bản xấu: nếu kịch bản xấu xảy ra, gia đình bạn có chịu được không? Nếu không, quy mô đầu tư đang quá lớn.
Để ý khoảng cách giữa kịch bản tốt và kịch bản rất xấu: hơn một trăm phần cho mỗi vụ, trong khi đầu tư ban đầu chỉ 160 phần. Với một loài lạ, thị trường nhỏ, khoảng dao động rộng như vậy là bình thường. Với vật nuôi quen, thị trường lớn, khoảng dao động thường hẹp hơn nhiều. Độ rộng của khoảng dao động chính là thước đo rủi ro, quan trọng không kém con số lãi ở kịch bản tốt.
Điểm hoà vốn: ba con số đáng biết
Giá hoà vốn. Lấy tổng chi phí một vụ chia cho sản lượng dự kiến. Ví dụ trên: 117 chia 350, khoảng 0,33 phần mỗi ký. Giá sản phẩm cuối xuống dưới mức này là lỗ. So con số này với giá thấp nhất bạn từng nghe trên thị trường.
Sản lượng hoà vốn. Lấy tổng chi phí chia cho giá hiện tại. Ví dụ trên: 117 chia 0,4, khoảng 293 ký. Nếu vụ đầu chỉ đạt dưới mức này do hao hụt, bạn lỗ dù giá giữ nguyên.
Tỷ lệ sống hoà vốn. Từ sản lượng hoà vốn, suy ra phải nuôi sống được bao nhiêu phần trăm số con thả. Nếu con số này cao hơn tỷ lệ sống mà các hộ khác thực tế đạt được, kế hoạch đang dựa vào may mắn.
Số vụ hoà vốn đầu tư. Lấy tiền đầu tư ban đầu chia cho dòng tiền thực mỗi vụ, tức lãi cộng lại phần khấu hao. Con số này cho biết phải nuôi bao nhiêu vụ liên tiếp không gặp vụ xấu mới lấy lại được tiền giống và chuồng. Càng nhiều vụ, càng phải tin rằng thị trường giữ nguyên lâu.
Đọc ba con số hoà vốn cho đúng
Ba con số trên có ý nghĩa nhất khi đặt cạnh dữ liệu thực tế. Giá hoà vốn đặt cạnh giá thấp nhất mà sản phẩm cuối từng được bán trong một hai năm qua, hỏi từ người mua. Sản lượng hoà vốn đặt cạnh sản lượng thực tế của các hộ mới nuôi vụ đầu, không phải của trại mẫu. Tỷ lệ sống hoà vốn đặt cạnh tỷ lệ sống mà thú y hoặc người nuôi lâu năm cho là bình thường.
Khoảng cách giữa con số hoà vốn và con số thực tế gọi là biên an toàn. Biên rộng nghĩa là bạn có chỗ để sai, để gặp một vụ xấu mà không lỗ. Biên hẹp, chẳng hạn giá hoà vốn chỉ thấp hơn giá hiện tại một chút, nghĩa là chỉ cần giá giảm nhẹ hoặc hao hụt tăng nhẹ là lỗ.
Với loài phong trào, giá hiện tại thường đang ở mức cao nhất của chu kỳ, vì ít người bán sản phẩm cuối. Nên biên an toàn tính theo giá hiện tại thường đẹp hơn thực tế. Tính lại với giá giảm ba bốn phần mười để thấy biên an toàn khi phong trào chuyển giai đoạn.
Thời gian thu hồi tiền giống và chuồng trại
Ngoài lãi mỗi vụ, cần biết bao lâu mới thu lại được số tiền đầu tư ban đầu. Trong ví dụ, đầu tư ban đầu 160 phần. Nếu mỗi vụ lãi 23 phần trước khấu hao, cộng lại phần khấu hao 37 phần, tức dòng tiền thực mỗi vụ khoảng 60 phần, thì cần gần ba vụ để thu hồi. Nếu mỗi năm chỉ được một hai vụ do độ trễ sinh sản và nuôi lớn, thời gian thu hồi kéo dài hai ba năm.
Hai ba năm là khoảng thời gian đủ dài để một phong trào đi từ giai đoạn nhân giống tới giai đoạn sập. Nói cách khác, bạn có thể chưa thu hồi xong vốn thì giá sản phẩm cuối đã giảm. Đây là rủi ro lớn nhất của người vào muộn.
So sánh: nếu cùng số vốn đó đầu tư vào một vật nuôi quen thuộc, thị trường lớn, bạn đã có kinh nghiệm, lãi mỗi vụ có thể thấp hơn trong kịch bản tốt, nhưng kịch bản xấu ít xấu hơn nhiều. Đặt hai phép tính cạnh nhau trước khi quyết định.
Những sai lầm hay gặp khi tự tính
Những lỗi dưới đây làm phép tính đẹp hơn thực tế. Rà lại bảng tính của mình theo từng dòng.
- Tính sản lượng theo số con thả nhân với cân nặng xuất bán, quên trừ hao hụt.
- Tính thức ăn theo số con còn sống cuối vụ, trong khi con chết giữa vụ cũng đã ăn.
- Lấy giá sản phẩm cuối ở dịp cao điểm như Tết làm giá cả năm.
- Không tính khấu hao giống bố mẹ, coi như dùng mãi không già, không chết.
- Không tính thời gian chờ giữa hai vụ: làm vệ sinh, chờ con giống mới lớn, chờ mùa.
- Bỏ qua chi phí bán hàng: đi giao, chờ người mua, hàng ế phải bán rẻ.
- Dùng sản lượng của trại mẫu thay cho sản lượng của hộ mới.
- Quên rằng nếu nhiều hộ cùng vào nghề, giá sản phẩm cuối sẽ không giữ như lúc chưa ai bán.
Sửa từng lỗi một thường làm lãi mỗi vụ giảm đi đáng kể so với bảng ban đầu. Nếu sau khi sửa hết mà kịch bản vừa vẫn có lãi, đó là dấu hiệu tốt thật sự.
Câu hỏi thường gặp
Không biết giá sản phẩm cuối thì tính thế nào?
Không tính được, và đó chính là câu trả lời. Nếu sau khi hỏi chợ, nhà hàng, người thu mua mà bạn vẫn không có một con số giá sản phẩm cuối đáng tin, nghĩa là thị trường sản phẩm cuối chưa có hoặc rất nhỏ. Nên dừng ở đó trước khi mua giống.
Có nên tính công của chính mình vào chi phí không?
Nên. Thời gian bạn chăm đàn là thời gian không làm việc khác. Nếu sau khi trừ công mà vẫn có lãi, nghề nuôi đó thật sự tạo ra giá trị. Nếu chỉ có lãi khi không tính công, bạn đang làm thuê cho chính mình với mức công thấp.
Người bán giống đưa bảng tính sẵn thì có nên dùng không?
Dùng để biết họ tính những khoản nào, nhưng tự điền lại bằng số của bạn: giá thức ăn bạn mua được, tỷ lệ hao hụt của người mới, giá sản phẩm cuối bạn tự hỏi. Những khoản bảng tính của họ không có, như điện, công, vận chuyển, thì thêm vào.
Nên dùng kịch bản nào để quyết định?
Dùng kịch bản vừa để xem có đáng làm không, và dùng kịch bản xấu để xem có chịu được không. Nếu kịch bản xấu làm gia đình rơi vào khó khăn, giảm quy mô cho tới khi kịch bản xấu chỉ là một khoản lỗ chịu được.
Có nên vay vốn để nuôi nếu phép tính cho thấy có lãi?
Với loài lạ, thị trường chưa ổn định, vay vốn làm rủi ro tăng lên nhiều: phải trả lãi và gốc đúng hạn dù vụ nuôi tốt hay xấu. Nếu muốn thử, nên dùng vốn tự có ở quy mô nhỏ cho vụ đầu, có kết quả thật rồi mới tính chuyện mở rộng.
Sau vụ đầu nên tính lại thế nào?
Thay các số giả định bằng số thật của vụ đầu: sản lượng, hao hụt, chi phí, giá bán được. So với phép tính ban đầu xem lệch ở đâu. Nếu kết quả thật kém hơn kịch bản vừa, đừng mở rộng; tìm nguyên nhân trước.