Hộ nuôi có gà con tự ấp dư, một lứa heo con nhiều hơn chuồng chứa được, hay ao ương cá giống còn thừa thường báo giá theo câu “người ta bán bao nhiêu thì mình bán bấy nhiêu”. Cách đó thiếu hai thứ: giá sàn, dưới mức đó bán là lỗ, và lý do chênh giữa hàng của mình với hàng nơi khác. Thiếu giá sàn thì dễ bán dưới vốn khi bị ép; thiếu lý do chênh thì khó giữ giá dù hàng tốt hơn.
Cách định giá đủ dùng cho hộ nhỏ gồm ba bước: tính giá sàn từ chi phí của chính chuồng mình, đối chiếu mặt bằng chung của cùng loại cùng cỡ trong vùng, rồi điều chỉnh theo những gì hàng mình có hay không có (độ đều, tiêm phòng có sổ, điều kiện bao, giao tận nơi). Bài này đi qua từng bước với ví dụ giả định, và cách xử lý khi con giống lớn dần mà chưa bán hết.
Vì sao hộ nhỏ hay bán sai giá
Lỗi phổ biến nhất là quên chi phí của chính mình. Trứng ấp lấy từ đàn nhà nên coi như không tốn; điện ấp đi chung hoá đơn điện sinh hoạt nên không thấy; công chăm do người nhà làm nên không tính. Đến khi bán gà con theo giá của trại lớn, có khi thực chất là bán dưới chi phí mà không biết.
Lỗi thứ hai là so nhầm hàng. Giá gà con một ngày tuổi của trại ấp công nghiệp, đã nhỏ vắc xin, đã phân biệt trống mái, không cùng hàng với gà con tự ấp chưa tiêm gì, chưa phân biệt. Heo con của trại có sổ tiêm đầy đủ không cùng hàng với heo con của nái nhà chưa tiêm mũi nào. So nhầm hàng thì hoặc bán quá cao, khách không mua, hoặc tự hạ giá không cần thiết.
Lỗi thứ ba là không có kế hoạch khi bán chậm. Con giống lớn từng ngày; gà con ba tuần tuổi không còn là gà con một ngày tuổi, cá ương lâu thì vượt cỡ khách cần. Không tính trước chuyện này thì đến lúc phải bán gấp, giá bị ép thấp nhất.
Bước một: tính giá sàn từ chi phí, ví dụ giả định với 100 gà con tự ấp
Giá sàn là tổng chi phí chia cho số con bán được. Bảng dưới là ví dụ giả định cho một mẻ ấp nhà; hãy thay bằng con số của chính chuồng mình. Mọi con số chỉ để minh hoạ.
| Khoản chi phí | Cách ước | Ví dụ giả định |
|---|---|---|
| Trứng ấp | số trứng đưa vào ấp × giá bán trứng ăn nếu không đem ấp | 140 trứng × 3.000 đ = 420.000 đ |
| Điện máy ấp | công suất máy × số giờ × giá điện | khoảng 120.000 đ |
| Thức ăn, điện úm tới lúc bán | theo số ngày giữ lại | khoảng 150.000 đ cho một tuần |
| Vắc xin, dụng cụ | nếu có làm, theo hướng dẫn của thú y | khoảng 80.000 đ |
| Hao hụt | trứng không nở, gà con chết đã nằm trong tỷ lệ | 140 trứng ra 100 con bán được |
| Công | tuỳ bạn có tính hay không; nên tính | khoảng 150.000 đ |
| Tổng | 920.000 đ | |
| Giá sàn mỗi con | tổng ÷ số con bán được | khoảng 9.200 đ |
Lưu ý dòng trứng ấp: trứng nhà không phải không tốn, vì nếu không ấp bạn đã bán được hoặc ăn được. Đó gọi là chi phí cơ hội. Với heo con, cách tính tương tự nhưng các khoản lớn hơn: chi phí nuôi nái trong thời gian chửa và nuôi con chia cho số heo con cai sữa; với cá ương, gồm cá bột, thức ăn, công, chi phí ao chia cho số cá giống thu được.
Bước hai: đối chiếu mặt bằng chung cho đúng loại hàng
Sau khi có giá sàn, tìm xem cùng loại hàng trong vùng đang bán thế nào. Cùng loại nghĩa là cùng loài, cùng giống hoặc giống lai tương đương, cùng tuổi hoặc cỡ, cùng tình trạng tiêm phòng, cùng điều kiện giao. Hỏi vài người bán trong xóm, đọc vài tin rao cùng loại ở gần, hỏi khách hay mua xem họ thường trả bao nhiêu cho hàng tương tự.
Nếu mặt bằng chung cao hơn giá sàn khá nhiều, bạn có chỗ để đặt giá. Nếu mặt bằng chung chỉ nhỉnh hơn giá sàn, nghĩa là cách làm của bạn đang tốn hơn người khác ở đâu đó: tỷ lệ nở thấp, hao nhiều, máy ấp tốn điện. Điều đó đáng xem lại trước mẻ sau. Nếu mặt bằng chung thấp hơn giá sàn, bán theo mặt bằng chung là bán lỗ; cân nhắc giữ lại tự nuôi, đổi cỡ bán, hoặc chấp nhận lỗ có tính toán để giải phóng chuồng.
Một chú ý quan trọng: mặt bằng chung trên tin rao thường là con số người bán muốn bán, không hẳn là giá đã bán được. Giá khách thật sự trả, nghe từ khách, thường đáng tin hơn.
Bước ba: điều chỉnh theo những gì hàng của mình có hay không có
Đặt giá của mình lên hoặc xuống so với mặt bằng chung theo từng yếu tố. Cột phải là gợi ý chiều điều chỉnh, không phải mức cụ thể.
| Yếu tố | Hàng của bạn | Chiều điều chỉnh |
|---|---|---|
| Độ đều của lứa | đều, ít con dạt | giữ giá hoặc nhỉnh hơn |
| Tiêm phòng | có làm, có sổ hoặc ghi chép ngày tiêm | nhỉnh hơn hàng chưa tiêm |
| Trống mái | chưa phân biệt | thấp hơn hàng đã phân biệt |
| Nguồn bố mẹ | biết rõ giống bố mẹ, nói được | giữ giá; không rõ thì nên nói thật và hạ |
| Điều kiện bao | có bao chết trong vài giờ đầu | nhỉnh hơn |
| Giao hàng | chở tận nơi trong xã | cộng phí chở hoặc gộp vào giá |
| Thời điểm | đang trái vụ, ít người mua | mềm hơn hoặc thêm điều kiện thay vì hạ sâu |
Điều chỉnh xong mà giá vẫn trên giá sàn là ổn. Nếu điều chỉnh đẩy giá xuống dưới giá sàn, nghĩa là với mặt bằng hiện tại bạn không có lãi khi bán loại hàng này; đó là thông tin quý cho quyết định mẻ sau, không phải lý do để bán bằng mọi giá.
Heo con và cá ương: những khoản hay bị bỏ sót khi tính giá sàn
Với heo con, khoản lớn nhất không nằm ở thời gian nuôi con mà ở con nái. Thức ăn cho nái trong thời gian chửa và nuôi con, tiền phối giống, phần khấu hao nái (nái không đẻ mãi được, rồi sẽ phải thay), tất cả chia cho số heo con cai sữa của lứa đó. Một lứa đẻ ít con thì giá sàn mỗi con cao hơn hẳn lứa đẻ nhiều; vì thế, hộ nuôi nái hay thấy có lứa bán theo mặt bằng chung là lỗ, có lứa lại lãi. Tính theo từng lứa giúp bạn biết lứa nào cần giữ giá.
Một khoản khác hay bị quên là heo con chết trong thời gian theo mẹ. Con chết không bán được, nhưng chi phí nái thì vẫn đã bỏ ra; giá sàn phải chia cho số con thực bán, không phải số con đẻ ra.
Với cá ương, khoản dễ bỏ sót là tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống. Mua một lượng cá bột, ương vài tuần, thu về số cá giống chỉ bằng một phần số cá bột ban đầu. Chi phí cá bột, thức ăn, vôi, công, tiền điện máy bơm nếu có, chia cho số cá giống thu được mới là giá sàn. Ngoài ra, ao dùng để ương thì không dùng nuôi việc khác được trong thời gian đó; nếu ao có thể cho thuê hoặc nuôi cá thịt, phần đó cũng là chi phí cơ hội.
Với cả hai, ghi sổ từng lứa từng đợt là cách duy nhất để có con số thật. Lần đầu ước thô cũng được, lần sau sẽ chính xác dần.
Khi con giống lớn dần mà chưa bán hết
Mỗi ngày giữ thêm, chi phí tăng và hàng có thể ra khỏi cỡ khách cần. Nên có kế hoạch từ trước, theo thứ tự:
- Đặt một mốc ngày cho mỗi lứa: quá ngày đó mà chưa bán hết thì chuyển sang phương án khác, không để trôi.
- Tính lại giá sàn theo số ngày đã giữ thêm, vì thức ăn và công đã cộng vào.
- Đổi cách bán: gà con lớn hơn có thể bán cho khách cần gà đã qua úm, với mức giá phản ánh phần úm bạn đã làm; heo con lớn hơn bán cho khách nuôi ngắn ngày.
- Báo cho khách quen trước khi hạ giá công khai; nhiều khi khách quen nhận cả lô với điều kiện tốt.
- Giữ lại tự nuôi nếu chuồng và vốn cho phép; tính xem nuôi tiếp tới xuất chuồng có hơn bán non không.
- Hạ giá có giới hạn: biết trước mức thấp nhất bạn chấp nhận, để khi bị ép vào phút cuối không quyết định trong lúc vội.
Bán dưới giá sàn đôi khi là quyết định đúng, ví dụ khi giữ thêm sẽ lỗ nhiều hơn hoặc chuồng cần trống cho lứa sau. Điều quan trọng là bạn biết mình đang bán lỗ bao nhiêu và vì sao, chứ không phải bị dồn vào đó.
Nói giá với khách sao cho giữ được giá
Khách hỏi giá con giống tự nhân giống ở nhà thường kèm câu “sao đắt hơn chỗ kia”. Câu trả lời giữ được giá không phải là cãi, mà là nói rõ hàng của mình có gì: lứa đều, đã tiêm theo hướng dẫn của thú y và có ghi ngày, bố mẹ là giống gì, có bao chết mấy giờ đầu, chở tới tận nhà. Nếu hàng không có những điều đó, nói thật và giá cũng nên phản ánh điều đó.
Một cách giữ giá khác là bán kèm thông tin: ngày nở hoặc ngày đẻ, ngày cai sữa, đã tiêm gì ngày nào theo hướng dẫn thú y, bố mẹ là giống gì. Viết tay trên một mảnh giấy đưa khách cùng con giống. Với khách, mảnh giấy đó giúp họ lên lịch chăm và tiêm tiếp; với bạn, nó là bằng chứng mình bán đàng hoàng, và là lý do khách chịu trả nhỉnh hơn hàng không rõ tuổi.
Tránh nói quá. Nói “giống thuần” khi không chắc, “bao khoẻ” mà không nói bao bao lâu, “toàn mái” với gà mới nở chưa phân biệt được, là những câu sẽ quay lại hại bạn khi khách phát hiện. Với con giống, khách phát hiện rất nhanh vì họ nuôi mỗi ngày.
Nếu bạn bán con giống tự nhân giống trong nhà thường xuyên, có những thủ tục về điều kiện sản xuất, kinh doanh con giống và kiểm dịch khi vận chuyển theo quy định hiện hành. Mức độ áp dụng cho hộ bán dư lẻ tẻ và cho người bán thường xuyên có thể khác nhau; hỏi cán bộ thú y cấp xã hoặc cơ quan chăn nuôi, thú y cấp tỉnh để biết trường hợp của mình cần gì.
Câu hỏi thường gặp
Trứng ấp lấy từ đàn nhà thì có cần tính vào giá không?
Nên tính. Nếu không đem ấp, số trứng đó bạn đã bán hoặc ăn được, nên chúng có giá trị. Bỏ khoản này đi làm giá sàn thấp giả, dễ dẫn tới bán lỗ mà không biết. Cách đơn giản là tính theo giá bạn vẫn bán trứng ăn.
Có nên tính công của người nhà vào giá sàn không?
Nên tính, ít nhất ở mức tượng trưng. Không tính công thì hoạt động nhân giống trông có lãi, nhưng thực chất là đổi công lấy rất ít tiền. Biết con số này giúp bạn quyết định có nên tiếp tục ấp bán hay chỉ ấp đủ dùng.
Hàng chưa tiêm phòng thì có nên bán không?
Có thể bán, miễn là nói thật với khách và giá phản ánh điều đó. Việc tiêm phòng cho con giống thế nào, lúc nào cần hỏi thú y; người bán không nên tự hứa đã tiêm khi không có ghi chép.
Khách quen xin giá thấp hơn giá sàn thì sao?
Nói rõ đó là mức thấp nhất bạn có thể bán mà không lỗ. Có thể đổi bằng điều kiện khác thay vì hạ giá: lấy cả lô, tự chở, nhận đúng ngày bạn cần trống chuồng. Khách quen thường hiểu nếu bạn nói thẳng và có lý do.
Bán heo con của nái nhà cần giấy tờ gì?
Tuỳ quy mô, tần suất bán và việc có vận chuyển ra ngoài địa phương hay không. Quy định về kiểm dịch vận chuyển và điều kiện kinh doanh con giống áp dụng theo văn bản hiện hành; hỏi thú y cấp xã hoặc cơ quan chăn nuôi, thú y cấp tỉnh để biết chính xác trường hợp của bạn.
Có nên rao giá thấp để bán nhanh rồi tăng sau không?
Không nên. Khách đã thấy giá thấp sẽ coi đó là giá thật của bạn, và việc tăng sau dễ bị cho là ép. Tốt hơn là báo đúng giá ngay từ đầu, kèm điều kiện rõ ràng, và nếu cần bán nhanh thì nói thẳng lý do, ví dụ cần trống chuồng.