Khi mua con giống trả chậm, tức nhận giống trước và trả tiền khi bán heo, bán gà hay thu cá, giấy ghi nợ nên có: số tiền nợ gốc và cách ra con số đó, phần chênh so với giá trả ngay nếu có, hạn trả gắn với sự kiện nhưng có ngày cuối cùng, cách trả từng phần, xử lý khi đàn gặp dịch hoặc chết hàng loạt, và nếu trả bằng sản phẩm thì giá trừ nợ tính theo cách nào.
Mua chịu con giống rất phổ biến ở nông thôn: người nuôi thiếu vốn, người bán muốn giữ khách và bán được nhiều hơn. Nhưng đây là một khoản nợ thật, thường đi kèm một khoản chênh giá mà người mua ít khi tính ra. Bài này không khuyên nên hay không nên mua chịu, mà giúp hai bên viết giấy cho rõ, tự tính phần chênh và tránh những điều khoản dễ gây mất trắng. Khi số tiền lớn hoặc có tài sản bảo đảm, hãy hỏi luật sư hoặc cán bộ tư pháp xã.
Mua chịu con giống: thoả thuận này thực chất là gì
Khi người bán giao 300 gà con hay 20 heo con mà chưa nhận đủ tiền, họ vừa bán hàng vừa cho người mua vay một khoản bằng đúng phần tiền chưa trả. Khoản vay này hiếm khi được gọi là vay, cũng ít khi có chữ "lãi", nhưng giá bán chịu thường cao hơn giá trả ngay. Phần chênh đó chính là chi phí của khoản vay.
Hiểu như vậy giúp người mua so sánh đúng: mua chịu với giá cao hơn có thể vẫn hợp lý nếu không có nguồn vốn nào khác rẻ hơn, nhưng cũng có thể đắt hơn hẳn so với vay ở chỗ khác rồi trả ngay. Và người bán cũng nên hiểu mình đang chịu rủi ro của người cho vay: nếu đàn chết, nếu giá đầu ra sụt, khả năng thu được nợ giảm theo.
Có kiểu mua chịu gắn với bao tiêu: người bán giống đồng thời là người mua lại sản phẩm, trừ tiền giống vào tiền sản phẩm. Kiểu này tiện, nhưng đặt người nuôi vào thế phụ thuộc vào một người mua duy nhất, và giá thu mua trở thành chỗ quyết định bạn còn lại bao nhiêu. Điều khoản giá phải được viết rõ hơn mọi điều khoản khác.
Tự tính phần chênh của giá trả chậm
Cách đơn giản nhất là so giá trả chậm với giá trả ngay cho cùng một lô, rồi chia theo thời gian nợ. Mọi số dưới đây là ví dụ giả định, quy về số tròn để dễ tính, không phải giá con giống thật.
| Bước | Cách tính | Ví dụ giả định |
|---|---|---|
| Giá trả ngay cả lô | Đơn giá trả ngay nhân số con | 20 heo con, lấy tổng là 100 cho dễ tính |
| Giá trả chậm cả lô | Đơn giá trả chậm nhân số con | Tổng là 110, trả sau 4 tháng |
| Phần chênh | Trả chậm trừ trả ngay | 10 |
| Tỷ lệ chênh cả kỳ | Phần chênh chia giá trả ngay | 10 chia 100 là 10% cho 4 tháng |
| Quy ra mỗi tháng | Tỷ lệ cả kỳ chia số tháng | Khoảng 2,5% mỗi tháng |
| So với nguồn vốn khác | Đặt cạnh chi phí vay ở chỗ khác cho cùng thời gian | Tự so theo lãi suất bạn thật sự được chào |
Nếu người bán không có giá trả ngay để so, hỏi thẳng: "trả tiền mặt hôm nay thì giá bao nhiêu?". Câu trả lời cho bạn biết phần chênh. Nếu người bán nói giá như nhau, phần chênh có thể nằm ở chỗ khác, như cam kết phải bán sản phẩm cho họ với giá do họ định.
Đây là phép tính ước lượng để so sánh, không phải cách tính lãi theo quy định của tổ chức tín dụng. Quy định về giới hạn lãi trong giao dịch dân sự có tồn tại; nếu thoả thuận có tính lãi rõ ràng, hãy hỏi cán bộ tư pháp hoặc luật sư về mức trần hiện hành.
Các dòng nên có trong giấy ghi nợ tiền giống
Giấy ghi nợ có thể là một phần của giấy mua bán hoặc tờ riêng. Dù hình thức nào, nên có đủ các dòng sau:
- Hai bên: họ tên, nơi ở theo tên xã và tỉnh mới, số giấy tờ tuỳ thân khi số tiền lớn.
- Nguồn gốc khoản nợ: "tiền mua 20 heo con giống giao ngày…, theo giấy mua bán ngày…".
- Số tiền nợ bằng số và bằng chữ, ghi rõ đã trừ phần cọc hay trả trước bao nhiêu.
- Có tính thêm gì không: nếu giá đã bao gồm phần trả chậm, ghi "không tính thêm lãi"; nếu có tính, ghi rõ cách tính.
- Hạn trả: gắn với sự kiện như "khi xuất bán lứa heo này" nhưng kèm "chậm nhất ngày…".
- Cách trả: một lần hay nhiều lần, tiền mặt hay chuyển khoản vào tài khoản nào.
- Trường hợp đàn gặp dịch, chết hàng loạt: hai bên thoả thuận giãn nợ, giảm nợ hay giữ nguyên.
- Nếu trả bằng sản phẩm: giá trừ nợ tính theo cách nào, cân ở đâu, ai chịu phí chở.
- Chữ ký hai bên, người làm chứng nếu có, ngày ký.
Dòng hay bị bỏ nhất là "chậm nhất ngày". Hạn "khi xuất chuồng" nghe hợp lý nhưng để mở: nếu người nuôi giữ đàn lâu hơn chờ giá, hay bán dần từng ít một, người bán không biết khi nào mới được đòi. Ngược lại, người mua cũng cần mốc này để biết mình có bao nhiêu thời gian.
Khi đàn gặp dịch hoặc chết hàng loạt: nên viết trước
Đây là rủi ro lớn nhất của mua chịu. Người nuôi trông vào tiền bán đàn để trả nợ. Đàn chết là mất cả nguồn trả. Nếu giấy không nói gì, theo nguyên tắc chung khoản nợ vẫn còn nguyên, và quan hệ giữa hai bên thường đổ vỡ đúng lúc khó khăn nhất.
Phân biệt nguyên nhân từ con giống và nguyên nhân sau đó. Nếu đàn chết trong thời gian bao sống vì nguyên nhân từ con giống, phần đó xử lý theo điều kiện bao. Nếu chết sau đó vì dịch trong vùng hay lỗi chăm sóc, đó là rủi ro của người nuôi. Giấy nên ghi rõ hai trường hợp, và dặn mời thú y xác định khi có chết nhiều.
Có thể thoả thuận giãn nợ trước. Ví dụ: "Nếu đàn chết trên một nửa vì dịch được cơ quan thú y xác nhận, hạn trả được lùi tới lứa nuôi kế tiếp, không tính thêm". Điều khoản như vậy giữ được quan hệ lâu dài, và người bán biết trước mình chấp nhận gì.
Không ép ký thêm giấy khi đang có chuyện. Đàn vừa chết mà bị đòi ký giấy nợ mới với điều kiện nặng hơn là tình huống dễ dẫn tới thiệt thòi. Người nuôi nên bình tĩnh, nhờ người có hiểu biết đọc trước khi ký, hỏi cán bộ tư pháp xã nếu cần.
Trả từng phần và đóng nợ cho sạch
Mua chịu thường được trả dần mỗi lần bán một ít. Mỗi lần trả mà không ghi lại là một lần tạo ra chỗ cãi nhau về sau.
- Mỗi lần trả, ghi một dòng biên nhận: ngày, số tiền, hình thức, còn nợ bao nhiêu, người nhận ký. Có thể ghi ngay ở mặt sau giấy ghi nợ.
- Chuyển khoản thì nội dung ghi "trả nợ tiền giống heo lứa tháng…", và gửi ảnh biên lai vào cuộc trò chuyện với người bán.
- Trả bằng sản phẩm thì lập phiếu cân, ghi giá trừ nợ đã thoả thuận, số tiền được trừ, hai bên ký.
- Định kỳ, ví dụ mỗi tháng, hai bên nhắn cho nhau số dư nợ còn lại để đối chiếu.
- Khi trả hết, xin người bán ghi "đã nhận đủ, không còn nợ" lên giấy ghi nợ gốc kèm chữ ký, rồi bạn giữ bản gốc.
- Nếu người bán giữ bản gốc, xin một giấy xác nhận đã thanh toán đủ riêng, hoặc tin nhắn xác nhận bằng chữ.
Đóng nợ cho sạch là bước hay bị bỏ vì hai bên đã quen nhau. Nhưng giấy ghi nợ còn nằm ở tay người bán mà không có dòng "đã nhận đủ" là một tờ giấy có thể được đem ra đòi lại, kể cả khi người bán không có ý xấu mà chỉ là con cháu họ tìm thấy sau này.
Những điều khoản nên tránh ký
Có một số điều khoản xuất hiện trong giấy mua chịu con giống mà người nuôi nên đọc thật kỹ, hỏi người hiểu biết trước khi ký, hoặc đề nghị bỏ. Thứ nhất là cam kết bán toàn bộ sản phẩm cho người bán giống với giá "do bên mua quyết định tại thời điểm thu mua". Giá do một bên quyết định là giá không có giới hạn; nên thay bằng một cách tính có tham chiếu mà cả hai bên kiểm được, ví dụ theo giá thu mua chung tại địa phương cùng ngày trừ đi một khoản đã thoả thuận.
Thứ hai là phạt chậm trả quá nặng hoặc tính lãi chồng lãi. Quy định về giới hạn lãi và phạt vi phạm trong giao dịch dân sự có tồn tại; điều khoản vượt mức có thể bị xem xét lại, nhưng gỡ ra lúc tranh chấp tốn công hơn nhiều so với không ký từ đầu. Thứ ba là giao giấy tờ nhà đất, giấy tờ xe làm "tin" cho khoản nợ tiền giống mà không có văn bản thế chấp đúng thủ tục. Cách này vừa không rõ ràng về pháp lý, vừa đặt tài sản lớn vào thế rủi ro cho một khoản nợ nhỏ hơn nhiều.
Cuối cùng, không ký giấy để trống số tiền hay để trống ngày. Một tờ giấy ký sẵn chưa điền đủ là tờ giấy người khác có thể viết thêm bất cứ thứ gì. Nếu người bán nói "ký trước đi, mai điền sau", câu trả lời đúng là đợi tới mai rồi ký.
Người bán con giống cũng nên tránh những điều khoản quá ưu ái mình, vì chúng dễ khiến người nuôi bỏ cuộc giữa chừng hoặc tìm cách bán sản phẩm cho người khác. Một thoả thuận mà cả hai bên đều thấy trả được, đòi được, mới là thoả thuận còn dùng được ở vụ sau.
Câu hỏi thường gặp
Mua chịu con giống có cần làm giấy không, hay quen biết là đủ?
Quen biết giúp thoả thuận dễ hơn nhưng không giúp nhớ đúng số tiền, ngày hẹn và những gì đã trả. Một tờ giấy ghi nợ ngắn gọn có chữ ký hai bên bảo vệ cả người mua lẫn người bán, và giữ được quan hệ quen biết khi có chuyện.
Giá mua chịu cao hơn giá trả ngay có phải là lãi không?
Về bản chất kinh tế, phần chênh đó là chi phí của việc trả sau, tương tự lãi. Về pháp lý, cách xác định có phải lãi hay không và giới hạn áp dụng thế nào thì nên hỏi cán bộ tư pháp hoặc luật sư. Với người nuôi, điều cần là tự tính ra phần chênh để so với các lựa chọn khác.
Đàn chết vì dịch, người bán vẫn đòi đủ tiền giống thì sao?
Nếu giấy không có điều khoản riêng, khoản nợ theo nguyên tắc chung vẫn còn. Người nuôi có thể thương lượng giãn nợ, đề nghị trả dần, nhờ trưởng thôn hoặc tổ hoà giải ở cơ sở. Đây là lý do nên viết điều khoản cho trường hợp dịch ngay từ khi mua.
Trả nợ bằng heo thịt, bằng cá thì giá tính thế nào cho công bằng?
Nên dùng một cách tính có tham chiếu mà cả hai kiểm được, như giá thu mua phổ biến tại địa phương trong ngày, cân tại một nơi hai bên cùng chứng kiến. Tránh để một bên tự định giá. Mỗi lần trừ nợ lập phiếu cân có chữ ký.
Người bán đòi giữ giấy tờ đất để cho mua chịu có nên đồng ý không?
Giao giấy tờ tài sản lớn cho một khoản nợ tiền giống mà không có văn bản thế chấp đúng thủ tục tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trước khi đồng ý, hãy hỏi luật sư hoặc cán bộ tư pháp xã. Thường có cách bảo đảm khác phù hợp hơn với giá trị khoản nợ.
Người bán con giống nên làm gì để bán chịu an toàn hơn?
Chỉ bán chịu cho người có lịch sử trả nợ tốt, giới hạn số tiền theo khả năng của đàn, viết giấy rõ hạn trả có ngày cuối cùng, theo dõi đàn định kỳ và đối chiếu số dư hằng tháng. Không nên dồn nhiều khoản nợ lớn vào cùng một vùng có nguy cơ dịch.