Giá con giống đổi theo mùa vì một lý do đơn giản: người nuôi trong một vùng thường thả giống cùng một lúc, theo lịch Tết, lịch mùa mưa, lịch sau dịch, trong khi trại giống không thể tăng sản lượng ngay. Một mẻ gà con phải ấp ba tuần, một lứa heo con phải chờ nái chửa gần bốn tháng rồi nuôi theo mẹ thêm một thời gian; khi cầu dồn vào một tháng, cung chỉ đuổi theo được sau vài tháng. Phần chênh đó hiện ra thành giá.
Hiểu nhịp này không giúp bạn đoán được giá, và bài này không dự báo giá. Nó giúp bạn làm ba việc thực tế: đặt sớm trước lúc cả vùng cùng đi mua, chốt giá lúc đặt khi thời gian chờ dài, và nhận ra khi nào giá thấp là vì trái vụ, khi nào là vì có chuyện. Dưới đây là các thời điểm hay làm giá đổi và cách người mua, người bán ứng xử ở mỗi thời điểm.
Cơ chế: vì sao cung con giống luôn đi sau cầu
Mỗi loại con giống có một độ trễ sản xuất riêng. Gà vịt con cần trứng giống từ đàn bố mẹ cộng thời gian ấp; muốn tăng nhiều thì phải có thêm đàn bố mẹ, mà đàn bố mẹ cần nhiều tháng nuôi mới vào đẻ. Heo con phụ thuộc số nái đang có và chu kỳ chửa đẻ của nái. Bê thì chu kỳ còn dài hơn, tính bằng năm. Cá giống, tôm giống phụ thuộc mùa sinh sản và lịch cho đẻ của trại.
Trong khi đó, cầu có thể đổi rất nhanh. Một tin đồn giá thịt lên, một mùa Tết sắp đến, một đợt dịch vừa qua làm cả vùng trống chuồng, là hàng trăm hộ cùng đi tìm con giống trong vài tuần. Cung không đáp được trong vài tuần, nên giá lên. Ngược lại, khi có dịch hoặc giá thịt xuống, người nuôi ngừng thả cùng lúc, trại vẫn có trứng đang ấp, nái vẫn đẻ, con giống dư ra và giá xuống.
Đó là lý do người nuôi lâu năm thường nói giá con giống “đi trước” giá thịt: nó phản ánh kỳ vọng của người nuôi về vài tháng sau, không phải giá hôm nay. Kỳ vọng thì có thể sai; vì vậy giá con giống cao không phải bảo đảm cho đầu ra, và giá thấp cũng không có nghĩa là mua vào sẽ có lợi.
Các thời điểm hay làm giá con giống đổi
Bảng dưới mô tả nhịp phổ biến; mỗi vùng, mỗi năm có thể khác. Bảng không nêu mức giá và không phải dự báo.
| Thời điểm | Phía cầu | Phía cung | Người mua nên làm gì |
|---|---|---|---|
| Ba bốn tháng trước Tết | nhiều hộ thả gà, vịt, ngan để kịp bán Tết | trại ấp theo kế hoạch đã định từ trước | đặt sớm, chốt giá và lịch giao bằng tin nhắn |
| Sau Tết | nhiều hộ nghỉ, dọn chuồng, chờ | trại vẫn ấp, vẫn có con | thường dễ mua, có thể thương lượng điều kiện tốt hơn |
| Đầu mùa mưa, đầu vụ thả cá | nhiều ao thả cùng lúc | trại cá cho đẻ theo mùa sinh sản | đặt theo đợt, hỏi lịch cho đẻ của trại |
| Sau một đợt dịch | nhiều hộ cùng tái đàn | nguồn giống sạch bị thiếu | không mua vội, hỏi thú y về điều kiện tái đàn, kiểm nguồn gốc kỹ |
| Trong lúc có dịch | người nuôi ngừng thả | trại dư con | giá thấp nhưng rủi ro cao; hỏi thú y trước khi mua |
| Rét đậm, nắng nóng gay gắt | người nuôi ngại thả | trại vẫn sản xuất | giá có thể mềm, nhưng tỷ lệ hao khi úm và vận chuyển cao hơn |
Nhìn cột cuối sẽ thấy: thời điểm giá dễ chịu thường cũng là thời điểm nuôi khó hơn hoặc rủi ro hơn. Đó không phải ngẫu nhiên; giá đã phản ánh một phần độ khó đó.
Trước Tết: chuyện đặt sớm và chốt giá
Với gà, vịt, ngan nuôi bán Tết, người nuôi thường tính ngược từ ngày bán, nên nhu cầu con giống dồn vào một khoảng hẹp. Trại ấp biết điều này và lên kế hoạch ấp từ trước, nhưng kế hoạch đó dựa trên ước đoán của họ. Năm nào người nuôi đổ xô thả nhiều hơn dự đoán, con giống đợt cao điểm thiếu và giá đợt đó cao hơn hẳn đợt trước vài tuần.
Cách giảm rủi ro là đặt sớm theo lịch: đặt suất cho một ngày giao cụ thể, chốt giá và số con lúc đặt, có cọc nếu người bán yêu cầu. Người bán có lợi vì biết trước số lượng để ấp; người mua có lợi vì không phải tranh mua đợt cao điểm. Các tình huống đặt cọc giữ suất (lứa nở ít hơn đặt, giao trễ, đổi giống) có danh mục riêng; ở đây chỉ cần nhớ giá chốt lúc đặt phải ghi ra, không để “giá lúc giao tính sau”.
Một lưu ý: thả quá sớm để tránh cao điểm thì gà lớn trước Tết, phải nuôi thêm, tốn thức ăn; thả trễ thì không kịp. Khoảng thả hợp lý phụ thuộc giống và cách nuôi, là việc của kỹ thuật nuôi. Về giá, việc của bạn là chọn ngày thả trước, rồi mới đi tìm người bán cho ngày đó.
Sau dịch: giá tái đàn và cái bẫy mua vội
Sau một đợt dịch lớn trên heo hay gia cầm, nhiều chuồng trống cùng lúc, nhiều hộ cùng muốn tái đàn, trong khi nguồn giống sạch bị thu hẹp vì chính đợt dịch. Giá con giống thường lên, có khi lên mạnh. Đây là lúc người mua dễ mắc sai lầm nhất: sợ mua trễ nên mua vội, mua từ nguồn không rõ, mua con giống từ vùng vừa có dịch vì giá thấp hơn.
Thứ tự đúng ngược lại. Trước khi nghĩ tới giá, hỏi cán bộ thú y cấp xã về điều kiện tái đàn ở địa phương: chuồng đã vệ sinh, để trống đủ thời gian chưa, có hướng dẫn gì về nguồn giống. Rồi mới tìm nguồn giống có giấy tờ nguồn gốc, có giấy kiểm dịch khi vận chuyển theo quy định hiện hành. Giá cao hơn một chút cho nguồn rõ ràng gần như luôn rẻ hơn một lứa mất trắng.
Với người bán, đây cũng là lúc dễ mất uy tín nhất: con giống bán được giá, khách đông, nên dễ bán cả con chưa đủ tuổi, con chưa được tiêm đủ theo lịch. Khách sẽ nhớ ai bán đàng hoàng lúc khan hàng.
Người mua cũng nên nhớ rằng giá cao sau dịch không kéo dài mãi. Khi các trại phục hồi đàn bố mẹ và đàn nái, cung tăng dần và giá thường về lại mặt bằng. Mua vội ở đỉnh để rồi lứa sau người khác mua rẻ hơn là chuyện thường gặp; đó là lý do không nên để nỗi sợ trễ quyết định thay cho lịch nuôi và điều kiện chuồng trại của mình.
Cá giống, tôm giống: mùa sinh sản đặt nhịp giá
Với gia cầm, trại có thể ấp quanh năm nên nhịp giá chủ yếu do cầu. Với cá giống và tôm giống, nhịp còn do mùa sinh sản. Nhiều loài cá nuôi cho đẻ tốt nhất trong một khoảng thời gian trong năm, khi nhiệt độ nước và thời tiết phù hợp; ngoài khoảng đó, trại phải can thiệp nhiều hơn hoặc không cho đẻ. Nên cá bột, cá hương của nhiều loài có mùa rộ và mùa vắng khá rõ, và giá đi theo.
Khi mùa thả của người nuôi trùng với mùa rộ của trại, cung cầu tương đối khớp. Khi người nuôi muốn thả sớm hơn, ví dụ để tránh mùa lũ hay để bán trước mùa thu hoạch rộ, họ phải mua cá giống đầu mùa, lúc cung còn ít, nên giá cao hơn và cỡ có khi chưa đều. Với tôm giống, lịch thời vụ ở từng vùng ven biển do cơ quan chuyên ngành khuyến cáo theo năm; thả lệch lịch đó vừa rủi ro vừa có thể khan giống.
Ở cấp hộ nuôi, điều thực tế là hỏi người bán lịch cho đẻ của trại mình định mua, rồi đặt theo đợt. Một đợt cá giống đã đặt và chốt giá từ lúc trại cho đẻ thường tránh được chuyện đến lúc cần thì hết cỡ mình muốn, phải mua cỡ khác với giá khác. Phần giá mỗi con và cách đổi từ giá kg ra giá con có bài riêng trong danh mục này.
Những điều không nên làm khi thấy giá đổi
Hiểu nhịp mùa vụ dễ dẫn tới cảm giác “biết trước” và làm những việc có rủi ro lớn. Các việc dưới đây là cái bẫy hay gặp:
- Mua dồn con giống để bán lại khi giá lên. Con giống không phải hàng để giữ: mỗi ngày giữ là một ngày tốn thức ăn, chuồng, công, rủi ro bệnh; con lớn lên là ra khỏi cỡ giống khách cần. Đây không phải việc của người nuôi nhỏ.
- Đổi loài theo giá con giống. Thấy giá giống một loài lên liền chuyển sang nuôi loài đó, trong khi chưa có chuồng, chưa có kinh nghiệm, chưa biết bán cho ai. Các đợt chạy theo con giống phong trào có danh mục riêng, vì cơ chế của chúng còn khác.
- Tin rằng giá giống cao là đầu ra chắc. Giá giống cao chỉ nói rằng nhiều người đang kỳ vọng; nếu ai cũng thả, lúc xuất chuồng có thể dư hàng.
- Mua giá thấp trong lúc có dịch mà không hỏi thú y. Giá thấp lúc này phản ánh rủi ro thật.
- Huỷ đặt cọc khi thấy giá xuống để mua chỗ khác rẻ hơn. Ngoài chuyện mất cọc theo thoả thuận, bạn mất luôn mối bán quen cho các mùa sau.
Điểm chung của các bẫy trên là coi con giống như một món hàng để đoán giá. Với người nuôi, con giống là đầu vào của một vụ nuôi; quyết định đúng là quyết định theo lịch nuôi và đầu ra của mình, giá con giống chỉ là một khoản trong đó.
Góc người bán: giữ giá cho khách quen qua các mùa
Giữ suất cho khách quen trước mùa cao điểm. Báo lịch ấp, lịch đẻ dự kiến cho khách quen từ sớm và nhận đặt suất. Khách quen chịu đặt sớm giúp bạn biết trước số lượng, đỡ rủi ro dư hàng sau cao điểm.
Tăng giá có lý do và nói ra lý do. Khi chi phí trứng giống, thức ăn, điện ấp tăng, nói rõ cho khách. Tăng giá vì khan hàng thì nên giữ một mức vừa phải với khách đã đặt trước; khách nhớ lâu những lần được giữ giá.
Mùa thấp điểm, bán điều kiện chứ đừng chỉ hạ giá. Thay vì hạ giá sâu, có thể chở tận nơi, bù hao nhiều hơn, bao chết dài hơn. Khách mua trái vụ thường lo hao hơn lo giá.
Không bán con chưa đạt lúc khan hàng. Khan hàng là lúc dễ bán mọi thứ, nhưng cũng là lúc lỗi của bạn dễ thành tiếng xấu nhất, vì khách nào cũng đang so sánh và kể với nhau.
Câu hỏi thường gặp
Có nên chờ sau Tết mới mua con giống cho rẻ không?
Chỉ khi lịch nuôi của bạn cho phép. Nếu bạn nuôi để bán Tết thì chờ sau Tết là lỡ vụ. Nếu nuôi quanh năm, mua lúc nhiều hộ nghỉ có thể dễ thương lượng hơn, nhưng cần xét thời tiết và khả năng úm của chuồng vào thời điểm đó.
Giá con giống tăng có phải dấu hiệu giá thịt sắp tăng không?
Không nhất thiết. Giá con giống phản ánh kỳ vọng của người nuôi, và nếu nhiều người cùng thả thì lúc xuất chuồng có thể dư hàng. Không nên dùng giá con giống làm căn cứ dự đoán đầu ra.
Sau dịch bao lâu thì tái đàn được?
Thời gian để trống chuồng và điều kiện tái đàn tuỳ loại dịch và hướng dẫn của cơ quan thú y địa phương. Hỏi cán bộ thú y cấp xã hoặc cơ quan chăn nuôi, thú y cấp tỉnh trước khi đặt mua con giống.
Đặt con giống trước mấy tháng thì chốt được giá?
Tuỳ người bán. Nhiều trại chỉ nhận chốt giá khi thời gian chờ ngắn và có cọc. Với thời gian chờ dài, có thể thoả thuận giá kèm biên độ: lệch quá một mức thì hai bên chia phần lệch. Điều quan trọng là ghi rõ cách tính ra.
Mua con giống lúc giá thấp trong mùa rét có lợi không?
Giá có thể mềm, nhưng tỷ lệ hao khi vận chuyển và úm thường cao hơn, chi phí sưởi cũng tăng. Tính giá thật trên mỗi con nuôi sống, cộng thêm chi phí sưởi, rồi mới so với mua đúng vụ.
Người bán báo giá khác hẳn tuần trước có phải ép giá không?
Chưa chắc. Giá con giống có thể đổi nhanh theo cầu trong vùng và theo chi phí của trại. Hỏi lý do, hỏi thêm vài nơi cùng loại cùng cỡ để biết mặt bằng chung, rồi quyết định. Với hàng đã đặt và chốt giá thì giá chốt mới là căn cứ.