Gà con một ngày tuổi được bán theo ba kiểu: gà mái đã phân biệt, gà trống đã phân biệt, và gà chưa phân biệt (lẫn trống mái theo tự nhiên). Giá ba loại khác nhau, và loại nào hợp lý hơn phụ thuộc hoàn toàn vào mục đích nuôi. Người nuôi gà đẻ cần mái, nên phải tính giá trên mỗi con mái; người nuôi thịt thì tuỳ giống, có khi trống lớn nhanh hơn và đáng mua hơn.
Phép tính cốt lõi: giá thật mỗi con mái khi mua gà chưa phân biệt bằng tổng tiền trừ đi giá trị bạn thu lại từ số trống, chia cho số mái. Bài này đi qua phép tính đó, cách hiểu câu “bao trống mái” với độ chính xác phân biệt, và cách áp cho vịt đẻ, cút đẻ. Mọi con số là ví dụ giả định; cách phân biệt trống mái bằng mắt thuộc khâu chọn giống, không bàn ở đây.
Vì sao giá gà mái, gà trống và gà chưa phân biệt khác nhau
Trong một mẻ nở, số trống và mái xấp xỉ ngang nhau. Trại phải bỏ công, bỏ tay nghề để tách trống mái lúc một ngày tuổi, bằng cách xem lông cánh với những giống có đặc điểm di truyền cho phép, hoặc bằng kỹ thuật viên có tay nghề. Công tách và tay nghề này nằm trong giá gà đã phân biệt.
Ở giống gà chuyên trứng, gà trống lớn chậm, ít thịt, nên giá trị của chúng thấp; vì vậy gà mái đã phân biệt mang gần như toàn bộ giá của mẻ nở, và giá mái thường cao hơn hẳn gà chưa phân biệt. Ở nhiều giống gà lông màu và gà thả vườn nuôi thịt, gà trống lớn nhanh hơn, nặng cân hơn, có khi được người nuôi thịt ưa hơn, nên giá trống có thể ngang hoặc cao hơn mái.
Vì thế, không có quy tắc chung “mái đắt hơn trống”. Điều duy nhất ổn định là: giá gà chưa phân biệt xấp xỉ giá trung bình của một con trống và một con mái, trừ đi phần công phân biệt mà trại không phải làm. Hiểu điều này rồi thì tự tính được loại nào hợp với mình.
Một yếu tố nữa làm giá chênh là độ đều của mẻ nở và nguồn gà bố mẹ. Gà mái đã phân biệt từ một mẻ đều, bố mẹ rõ nguồn, đã nhỏ vắc xin tại trại thì giá cao hơn gà mái phân biệt bằng mắt ở một lò ấp nhỏ. Hai loại đó không phải cùng một hàng, nên khi so giá mái với mái, hỏi thêm phân biệt bằng cách nào và mẻ nở từ đàn bố mẹ nào, như đã nói ở phần câu hỏi bên dưới.
Tính giá thật mỗi con mái: ví dụ giả định
Giả định bạn cần 100 con gà mái để nuôi lấy trứng. Có hai cách mua. Mọi con số chỉ để minh hoạ.
| Chỉ tiêu | Mua gà mái đã phân biệt | Mua gà chưa phân biệt |
|---|---|---|
| Số con phải mua | 100 (giả định phân biệt đúng 95%) | 200 (giả định nửa trống nửa mái) |
| Giá mỗi con (giả định) | 18.000 đ | 9.000 đ |
| Tổng tiền | 1.800.000 đ | 1.800.000 đ |
| Số mái thật nhận | 95 | 100 |
| Số trống phải nuôi hoặc bán | 5 | 100 |
| Chi phí nuôi trống tới lúc bán (giả định) | nhỏ | đáng kể: thức ăn, chỗ chuồng, công |
| Giá trị thu lại từ trống | nhỏ | phụ thuộc giống: giống chuyên trứng thấp, giống lông màu khá hơn |
Nhìn tổng tiền thì hai cách ngang nhau. Khác biệt nằm ở 100 con trống: nếu là giống chuyên trứng, nuôi chúng tốn chuồng và thức ăn mà thu lại ít, nên mua mái đã phân biệt thường hợp lý hơn. Nếu là giống kiêm dụng hay lông màu và bạn có chỗ nuôi thịt, 100 con trống có thể thành một vụ thịt nhỏ, và mua gà chưa phân biệt lại hợp lý. Đổi giả định là kết quả đổi; điều bảng muốn chỉ ra là đừng so giá mỗi con mà so giá mỗi con mái thật cộng chi phí xử lý số trống.
Hiểu đúng câu “bao trống mái”
Phân biệt lúc một ngày tuổi không đúng tuyệt đối. Tuỳ giống và tay nghề, luôn có một tỷ lệ nhầm. Người bán nói “bao mái” mà không nói tỷ lệ thì câu đó gần như không đo được.
Hỏi con số cụ thể. Câu đúng là: “bao mái bao nhiêu phần trăm, nếu lẫn trống quá mức đó thì xử lý thế nào”. Ví dụ giả định: bao 95%, lẫn trống quá năm con trên trăm con thì đổi hoặc trả tiền phần vượt.
Hỏi khi nào kiểm. Gà con trống mái chỉ lộ rõ sau vài tuần tuổi, khi mào, lông đuôi, dáng đứng khác nhau. Thoả thuận thời điểm kiểm và cách báo, vì không người bán nào nhận đổi gà đã nuôi mấy tháng.
Hỏi đền bằng gì. Đổi con mái cùng tuổi thường không được vì trại không còn lứa đó. Hay gặp hơn là trả lại tiền phần chênh giữa giá mái và giá trống cho số trống vượt. Ghi con số này ra.
Bằng chứng. Chụp ảnh, quay video đàn khi kiểm, đếm trống mái trước mặt người bán nếu được. Không có bằng chứng thì “bao trống mái” chỉ còn là lời nói.
Áp cho vịt đẻ, cút đẻ, ngan và bồ câu
Vịt đẻ: cùng logic với gà đẻ. Vịt trống của giống chuyên trứng nuôi thịt kém, nên người nuôi vịt đẻ thường cần vịt mái đã phân biệt. Nếu mua lẫn, phải có kế hoạch cho số trống từ trước: nuôi thịt ngắn ngày, bán sớm, hay giữ một phần làm trống giống nếu cần trứng có phôi. Mỗi kế hoạch đều có chi phí, cần đưa vào phép tính giá mỗi con mái.
Cút đẻ: cút con rất nhỏ, phân biệt trống mái lúc mới nở khó, nên nhiều người mua cút hậu bị đã lộ rõ trống mái thay vì cút con. Khi đó phép so là giữa giá cút con chưa phân biệt cộng chi phí nuôi tới khi lọc được, và giá cút hậu bị mái đã lọc. Cút trống thường bán thịt sớm.
Ngan: ngan trống và ngan mái chênh nhau rõ về cân nặng khi trưởng thành, nên người nuôi thịt hay quan tâm tỷ lệ. Mua lẫn thì đàn lớn không đều; mua tách thì giá khác nhau. Hỏi người bán đã tách chưa và tách theo cách nào.
Bồ câu: thường bán theo cặp đã ghép trống mái, nên giá đã gồm việc người bán ghép đôi. Hỏi rõ cặp đã đẻ chưa, ghép bao lâu, vì cặp ghép sai phải tách ghép lại là mất thêm thời gian và có khi mất thêm tiền mua con thay.
Với cả bốn loại, nguyên tắc giữ nguyên: xác định mình cần con gì, tính tổng tiền để có đủ số con đó, cộng chi phí xử lý phần con không cần, rồi mới so giá.
Các câu hỏi trước khi mua gà vịt con theo trống mái
Hỏi bằng tin nhắn để có câu trả lời ghi lại. Câu trả lời của từng nơi đặt cạnh nhau là so được ngay.
- Lứa này là gà mái đã phân biệt, gà trống, hay chưa phân biệt?
- Nếu đã phân biệt: phân biệt bằng cách nào, bao đúng bao nhiêu phần trăm?
- Lẫn trống quá mức bao thì xử lý thế nào: đổi, trả tiền phần chênh, hay không xử lý?
- Kiểm lúc mấy tuần tuổi, báo bằng cách nào, cần ảnh hay video ra sao?
- Nếu chưa phân biệt: lứa này dự kiến trống mái khoảng bao nhiêu, có cho chọn không?
- Giá có gồm vắc xin tại trại, chở, bù hao như các lô khác không?
Ghi kèm mục đích nuôi trong tin nhắn (nuôi đẻ hay nuôi thịt, nuôi bao nhiêu con, có chỗ nuôi trống hay không). Người bán biết mục đích sẽ tư vấn đúng loại hơn, và nếu sau này có chuyện lẫn trống mái, mục đích đã ghi là căn cứ cho thấy vì sao tỷ lệ đó quan trọng với bạn.
Gà con hay gà hậu bị sắp đẻ: so giá trên mỗi con mái đưa vào đẻ
Người nuôi gà đẻ còn một lựa chọn nữa: không mua gà con mà mua gà hậu bị đã lớn, đã lộ rõ trống mái, sắp vào đẻ. Giá mỗi con hậu bị cao hơn nhiều so với gà con, và người mới thường thấy con số đó rồi bỏ qua. Nhưng so đúng thì phải so trên cùng một đơn vị: tổng chi phí để có một con mái khoẻ bắt đầu đẻ.
Với gà con, chi phí đó gồm tiền con giống chia cho số mái thật, cộng thức ăn, điện úm, vắc xin, công và phần hao trong mấy tháng nuôi hậu bị, cộng chi phí xử lý số trống nếu mua chưa phân biệt. Với gà hậu bị, chi phí gần như chỉ là giá mua, cộng chở và một thời gian làm quen chuồng mới. Ví dụ giả định: gà con mái tính cả nuôi hậu bị ra khoảng 90.000 đồng mỗi con vào đẻ, gà hậu bị mua sẵn khoảng 100.000 đồng mỗi con. Chênh 10.000 đồng mỗi con là giá của việc bạn không phải úm, không chịu hao, và vào đẻ sớm hơn vài tháng.
Phép so này không có đáp án chung. Người có chuồng úm, có kinh nghiệm úm thường tự nuôi từ gà con lợi hơn; người mới, ít chỗ, hoặc cần trứng sớm thì gà hậu bị gọn hơn. Chọn gà hậu bị khoẻ, đúng tuổi là việc của khâu chọn giống; ở đây chỉ nhắc khi mua hậu bị, hỏi rõ tuổi theo ngày nở, đã tiêm gì theo sổ, và có bao vào đẻ trong khoảng nào không.
Góc người bán gà con tự ấp: định giá khi chưa phân biệt được
Hộ nuôi tự ấp gà con để bán dư thường không phân biệt được trống mái lúc mới nở. Cách báo giá rõ ràng nhất là bán theo kiểu chưa phân biệt, nói thẳng như vậy, và không nhận “bao mái”. Khách nuôi đẻ sẽ tự tính phần trống; khách nuôi thịt không quan tâm nhiều. Giá gà chưa phân biệt của bạn nên đặt trong tương quan với mặt bằng gà chưa phân biệt trong vùng, không so với giá gà mái đã phân biệt của trại.
Nếu muốn bán giá cao hơn cho khách nuôi đẻ, có thể nuôi thêm vài tuần tới khi trống mái lộ rõ rồi tách bán, mái giá khác, trống giá khác. Đổi lại bạn tốn thêm thức ăn, chỗ úm và chịu thêm rủi ro hao. Tính thử cả hai phương án với số liệu của chính chuồng mình trước khi chọn.
Điều không nên làm là nói “toàn mái” với gà mới nở khi không có cách phân biệt đáng tin. Vài tuần sau khách phát hiện, và với gà, chuyện lẫn trống trong đàn ai nhìn cũng thấy, nên tiếng xấu lan rất nhanh trong xóm.
Câu hỏi thường gặp
Gà chưa phân biệt trống mái có đúng nửa trống nửa mái không?
Xấp xỉ, nhưng từng mẻ có thể lệch. Với số lượng nhỏ, lệch có thể đáng kể. Khi tính giá mỗi con mái, nên dùng giả định thận trọng hơn một nửa một chút, và hỏi người bán các mẻ trước của họ thường ra tỷ lệ thế nào.
Mua gà mái đã phân biệt mà sau vài tuần thấy nhiều trống thì làm gì?
Đếm trống mái, chụp ảnh và quay video đàn, rồi báo người bán theo đúng cách đã thoả thuận. Đối chiếu với tỷ lệ bao đã ghi trong tin nhắn. Nếu lúc mua không có con số bao cụ thể, việc thương lượng sẽ khó hơn nhiều.
Nuôi gà thịt có cần quan tâm trống mái không?
Tuỳ giống và cách bán. Với nhiều giống lông màu, trống lớn nhanh và nặng hơn, có khi được giá hơn; đàn lẫn trống mái thì lớn không đều. Nếu bạn bán theo con hoặc bán cả đàn một lần, độ đều quan trọng, nên cân nhắc mua tách.
Vì sao gà trống của giống đẻ trứng lại rẻ?
Vì giống chuyên trứng được chọn lọc để mái đẻ nhiều, không để trống lớn nhanh. Trống của giống này nuôi thịt chậm, ít thịt, nên giá trị thấp. Giá mẻ nở dồn phần lớn vào con mái.
Có nên mua cút con chưa phân biệt để tiết kiệm?
Chỉ khi bạn có chỗ úm và nuôi cho tới lúc lọc được trống mái, và có nơi bán cút trống. Tính tổng chi phí cả giai đoạn đó rồi so với giá cút hậu bị mái. Với người mới nuôi ít chỗ, cút hậu bị đã lọc thường gọn hơn.
Giá vịt mái đẻ đã phân biệt có so được với gà mái đẻ không?
Không nên so trực tiếp vì khác loài, khác chi phí ấp, khác giá trị trứng. Chỉ so vịt mái với vịt chưa phân biệt cùng giống, hoặc giữa các nơi bán cùng loại. Phép tính giá mỗi con mái áp dụng y như với gà.